Hiển thị các bài đăng có nhãn bộ lưu điện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bộ lưu điện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2008

Fujifilm FinePix Z2 - lựa chọn siêu mỏng


Tuy là sản phẩm không mới, nhưng Fuji Z2 vẫn còn là lựa chọn đáng lưu tâm cho những ai muốn sở hữu một chiếc máy ảnh mỏng, nhẹ, gọn gàng, năng động với giá hợp lý.




Fujifilm FinePix Z2

Thành viên của dòng máy Z thêm vào độ nhạy lớp dẫn đầu.

Ngày nay, hãng Fujifilm thông báo cho ra đời chiếc máy ảnh FinePix Z2 Zoom, một máy ảnh số compact siêu mỏng đưa ra 5.1 megapixel, một màn hình LCD độ phân giải cao 2.5’’ và độ nhạy nâng cấp lên tới ISO 1600. Tất cả được bao gồm trong một vỏ ngòai có kiểu dáng đẹp và hợp thời trang.

Như những người có con mắt hiểu biết về cấu thành , đôi khi bạn muốn cân nhắc về các hình ảnh được chụp trong ánh sáng thấp. Với cài đặt độ nhạy đáng ngạc nhiên của ISO 1600, chiếc máy ảnh này nhất định sẽ không bị down xuống các trình diện thấp hay xấu.

Máy ảnh FinePix Z1 Zoom đạt được thành công lớn trong bộ xử lý thời trang của nó. Chiếc máy ảnh này tự hào với trình diện nhạy cao hơn (lên tới ISO 1600), nó khiến cho các hình ảnh rõ ràng và sắc nét có thể được tạo ra ngay cả dưới điều kiện ánh sáng thấp hay các điều kiện ánh sáng ở vùng khó. Ví dụ như các buổi tiệc, hòa nhạc hay các sự kiện được tổ chức trong nhà khác. Hơn thế nữa, bộ xử lý hình ảnh chân thực (Real Photo Processor) của Fujifilm giúp cho người sử dụng đạt được những hình ảnh trông tự nhiên hơn , mà không hề bị những ảnh hưởng xấu như bị thô ráp hay chói màu thường xảy ra khi máy ảnh chụp có flash và tránh những bóng mờ hình ảnh khi bạn bị rung tay hay do các hình ảnh di chuyển.

Màn hình chính LCD độ phân giải 2.5’’ được nâng cấp của FinePix Z2 Zoom được tưang cường bởi một kính chống xước chịu được nhiệt khiến nó hoạt động tốt hơn trong việc xem ảnh và chỉnh sửa để loại bỏ bớt các hình ảnh.

Hơn thế nữa, chiếc FinePix Z2 Zoom này được chuẩn bị để thích ứng với mọi điều kiện chụp hình nào với tính năng chụp liên tiếp – cho phép người sử dụng đuổi theo những khoảnh khắc hoạt động thể thao hay sự cố sàn catwalk, tình hình ảnh một. Thêm vào đó, với sự thông minh của mình, hãng đã cho ra đời vỏ ngòai bóng loáng của máy với 2 màu sẵn có là màu trắng hoặc đen – chắc chắn được bổ sung cho bất kì mẫu mã nào của mùa này.

Được thiết kế để bạn tiếp cận được gần hơn với các hoạt động, ống kính zoom quang khôngmở rộng, khúc xạ đặc biệt của chiếc máy ảnh FinePix Z2 Zoom sẽ giúp bạn không hề bị mất đi bất cứ một di chuyển ẩn nào với phần bên ngòai cực phẳng trên máy ảnh. Nếu như vậy không đủ với bạn, thì chiếc máy ảnh này còn có khả năng kết nối với thế hệ thứ 5 của Fujifilm Super CCD HR, có nghĩa là những thước in lại với kích cỡ lớn có thể được đưa ra mà không hề bị mất đi chất lượng hình ảnh hay các chi tiết.

Thật sự là một cú đột phá trong dòng máy ảnh bỏ túi, FinePix Z2 Zoom bao gồm chức năng trình chiếu film chất lượng TV, có khả năng băt được 30 ảnh trên một giây video VGA với đầy đủ âm thanh.

Các tính năng của FinePix Z2 Zoom
• Phần cảm biến Super CCD HR đưa ra 5.1 triệu hiệu ứng pixel.
• Ống kính zoom quang khúc xạ không mở rộng với zoom quang 3x
• Độ nhạy của ISP 1600 cho các hình ảnh với độ tạp nhiễu thấp trong mọi điều kiện.
• Vỏ ngòai có thiết kế bóng bẩy với chức năng trượt bật tắt.
• Có sẵn với 2 màu đen và trắng .
• Màn hình LCD độ phân giải cao 2.5 inch với kính chống xứơc chịu được nhiệt.
• Định dạng chụp liên tiếp cho các thước chụp hình ảnh hoạt động.
• Trình chiếu fim VGA tiêu chuẩn phù hợp chạy trên TV thu được 30 hình ảnh trên giây với đầy đủ âm thanh.
• Tương thích PictBridge™ cho các thước in trực tiếp mà không cần một máy tính.

Ông Adrian Clarke, Giám đốc sản xuất hình ảnh của Fujifilm nói rằng “Thật mỉa mai khi hầy hết các máy tính siêu mỏng đều cạnh tranh với nhau ở phần chúng được sử dụng thường xuyên nhất – là trong các tình huống xã hội ánh sáng thấp. ví dụ như một cuộc party. Với độ nhạy gấp 4 lần, kết hợp với thiết kế mẫu mực, chiếc FinePix Z2 Zoom thực sự là một chiếc máy ảnh đủ tiêu chuẩn trở thành một “người bầu bạn lúc xế chiều” của bạn”

----CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA GATS ----





  • Đãi ngộ Tối huệ quốc:




Đây là nghĩa vụ bắt buộc trong GATS, theo đó các nước cam kết dành cho nhau những "ưu đãi" đối với mọi lĩnh vực dịch vụ, ngoại trừ các lĩnh vực đã được đưa vào danh mục loại trừ đãi ngộ Tối huệ quốc tạm thời. Mục tiêu của các loại trừ này nhằm đảm bảo rằng lợi ích của một nước trong thỏa thuận đặc biệt với một nước nào đó sẽ không tự động dành cho các nước khác không thuộc đối tượng của thỏa thuận đó hưởng. Các loại trừ tạm thời có hiệu lực đến hết năm 1999, và có thể được kéo dài không quá 5 năm.





  • Đãi ngộ quốc gia:




Nguyên tắc này được thực hiện trên cơ sở kết quả của các cuộc đàm phán và các cam kết về tiến trình tự do hóa dịch vụ giữa các thành viên. Nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với các lĩnh vực và trong chừng mực nước đó cam kết thực hiện chứ không áp đối với các lĩnh vực mà nước đó chưa cam kết.





  • Cam kết mở rộng thị trường:




Các cam kết về việc mở cửa thị trường được thể hiện trong lộ tình cam kết của mỗi quốc gia. Lộ trình này sẽ xác định những điều kiện để tiếp cận thị trường dịch vụ. Những cam kết này mang tính ràng buộc giống như ràng buộc về thuế quan, chúng chỉ có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ sau khi đã "bù đắp" cho nước bị thiệt hại.





  • Thừa nhận lẫn nhau:




GATS yêu cầu các hiệp định song phương giữa các chính phủ về việc thừa nhận lẫn nhau (Ví dụ như cấp giấy phép cho người cung cấp dịch vụ) phải được áp dụng đối với tất cả các thành viên khác muốn tham gia hiệp định. Việc thừa nhận lẫn nhau không được áp dụng trên cơ sở phân biết đối xử hoặc gây trở ngại đặc biệt đối với thương mại.





  • Thanh toán quốc tế:




Các giao dịch vãng lai liên quan đến các cam kết cụ thể trong khuôn khổ Hiệp định sẽ không bị hạn chế; ngoại trừ trường hợp cán cân thanh toán gặp khó khăn thì khi đó một số hạn chế sẽ được áp dụng mang tính tạm thời căn cứ vào các điều kiện cụ thể.


Trong khuôn khổ các cuộc đàm phán đa phương tại vòng Uruguay, các thành viên đã đạt được một số thỏa thuận cụ thể về tự do hóa hơn nữa một số ngành dịch vụ lớn như tài chính, viễn thông, vận tải hàng không.





  • Dịch vụ tài chính:




Phụ lục về dịch vụ tài chính của GATS điều chỉnh các dịch vụ tài chính như dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác. Phụ lục này cho phép các chính phủ được thực hiện những biện pháp đặc biệt để bảo vệ nhà đầu tư, người gửi tiền, và để đảm bảo sự hòa nhập ổn định của hệ thống tài chính; và không áp dụng đối với những dịch vụ được chính phủ cung cấp vì mục đích quản lý hệ thống tài chính, chẳng hạn như hoạt đọng ngân hàng trung ương.


Các cuộc đàm phán về cam kết cụ thể trong lĩnh vực này đã được tiếp tục sau Vòng Uruguay với kết quả là Nghị định thư thứ 5 của GATS đã được ký kết. Cho đến nay, đã có 102 thành viên WTO có các cam kết về dịch vụ tài chính. Nghị định thư thứ 5 này đã có hiệu lực kể từ ngày 1/3/1999





  • Dịch vụ viễn thông:




Viễn thông vừa là một lĩnh vực trong nền kinh tế vừa là một phương tiện cung cấp dịch vụ cho các hoạt đọng kinh tế khác. Phụ lục về viễn thông của GATS đã quy định các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép tiếp cận mạng lưới viễn thông công cộng mọt cách bình đẳng. Các cuộc đàm phán tiếp theo về lĩnh vực này đã dẫn tới việc kí kết Nghị định thư thứ tư của GATS với sự tham gia của 69 thành viên. Nghị định thư này đã bắt đầu hiệu lực kể từ ngày 1/1/1998.





  • Dịch vụ vẫn tải hàng không:




GATS chỉ điều chỉnh các loại hình dịch vụ như dịch vụ sửa chữa bảo trì máy bay, dịch vụ tiếp thị vận tải hàng không và dịch vụ đặt giữ chỗ bằng máy tính.





  • Di chuyển của tự nhiên nhân:




Các chính phủ được phép đàm phán các cam kết cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho việc tạm trú của thể nhân ở một nước khác nhằm mục đích cung cấp dịch vụ. Hiệp định GATS không áp dụng đối với những tự nhiên nhân tới một nước nhằm mục đích là việc hoặc cư trú lâu dài, Hoặc các biện pháp liên quan đến quyền công dân, quyền cư trú.


Vòng đàm phán mới về dịch vụ dự kiến sẽ bắt đầu vào năm 2002, với các nội dung như trợ cấp, mua sắm dịch vụ của chính phủ, tự vệ, quy cách phẩm chất, tiêu chuẩn kỹ thuật, và giấy phép.


----GuitarPro 5 – Soạn nhạc-----


Sau khi đã cấu hình GuitarPro5 theo phần II, bạn đã có thể bắt tay ngay vào viết những giai điệu đầu tiên của mình. Trong phần III, nội dung chính sẽ đi sâu vào cách thức tận dụng sức mạnh của phần mềm.


1. Những điểm cần lưu ý:



Sử dụng phím tắt nhiều nhất có thể: thành thạo phím tắt sẽ giúp bạn tiết kiệm được một lượng thời gian không hề nhỏ một chút nào. Các thao tác khi soạn nhạc hầu hết đều có thể làm tốt với các phím Numpad (bộ bàn phím số phụ, chỉ có hiệu lực khi bật Numlock). Đây là thói quen nên có với bất cứ phần mềm nào chứ không chỉ riêng GuitarPro 5.
Tận dụng tối đa các công cụ phụ trợ của phần mềm khi soạn thảo: tương tự như trên, cái bạn được sẽ là thời gian và sức khỏe.
Tham khảo thêm phần Help của phần mềm trong khi học cách sử dụng để có thể tận dụng được tối đa sức mạnh của nó. Trong phần trợ giúp của mọi phần mềm đều có chứa rất nhiều Tips & Tricks (những gợi ý, hướng dẫn, mẹo nhỏ) rất hay và hữu ích.
Liên tục lưu phần việc đang soạn dở. Vì bạn không thể biết chắc rằng bạn sẽ bị cắt điện vào lúc nào (trừ khi bạn có bộ lưu điện UPS). Nhưng dù có bộ lưu điện thì đó cũng là một thói quen không thể thiếu. Bạn nên nhớ rằng: không phải lúc nào bạn cũng thao tác trên máy tính của mình.
Bài viết này không phải là 1 UserManual, mục đích của tôi viết ra chỉ để giúp bạn đọc có thêm kinh nghiệm sử dụng, tiết kiệm thời gian còn việc học chi tiết ra sao thì trong phần Help đã nói rất rõ.

2. Viết những nốt nhạc đầu tiên



GuitarPro cho phép nhập liệu thủ công bằng 3 cách. Đó là sử dụng Chuột, bàn phím máy tính (chủ yếu sử dụng NumPad) và Keyboard có hỗ trợ MIDI (hoặc Guitar MIDI). Dù là sử dụng cách nào đi nữa, thì việc dùng phím tắt để thay đổi trường độ, chèn thêm nốt, dấu lặng… cũng phải được sử dụng thành thạo. Bạn có thể viết nhạc trên Score (bản nhạc) hoặc Tablature, chuyển qua lại giữa 2 chế độ này bằng cách nhấn phím TAB.
Dưới đây là bảng các phím tắt nên dùng nhất:

Tăng gấp đôi trường độ - (NumPad)
Giảm hai lần trường độ + (NumPad)
Chấm dôi Del (NumPad)
Tăng 1 Semi-Tone Shift+Up
Giảm 1 Semi-Tone Shift-Down
Bend B
Vibrato V
HammerOn/Pull Off H
Chord A
Dấu lặng R
Copy Ctrl+C
Paste Ctrl+V
Cut Ctrl+X

Ngoài ra bạn còn có thể nhập vào nguyên một hoặc nhiều track từ một nguồn có sẵn như file MIDI, file MusicXML, ASCII (viết theo dạng Tablature), PowerTab, TablEdit.













Đáng nhắc đến nhất là chức năng Import các file MIDI. Với chức năng này, GuitarPro có rất nhiều ưu điểm:
- Import sự thay đổi của các tham số (volume, nhạc cụ, nhịp) trong track MIDI đang chọn.
- File MIDI không có các thông tin về vị trí bấm cần thiết cho người chơi guitar, GuitarPro sẽ tự động sắp xếp thế tay để thuận tiện nhất cho việc chơi trên guitar thật bằng chức năng Automatic Finger Positioning (phần I).
Bạn có thể nhấn Quick Import để GuitarPro tự động tạo 1 file mới và Import toàn bộ nội dung file MIDI vào. Nếu bạn muốn sử dụng 2 kênh MIDI cho mỗi track thì click chọn Use 2 Channels Per Track.











Nếu sử dụng tính năng Step by Step Import thì bạn có thêm nhiều lựa chọn hơn như chỉ Import tiêu đề, đổi giọng; tạo thêm 1 hoặc nhiều track trong file GuitarPro đang mở rồi Import các track MIDI đã chọn; hoặc ghép nhiều track MIDI vào một track GuitarPro…

3. Sử dụng thư viện hợp âm


Khi phải soạn nhanh những đoạn chơi hợp âm, hoặc đơn giản chỉ là cần tra cứu, thư viện hợp âm của GuitarPro 5 sẽ trợ giúp bạn rất nhiều.













Cách sử dụng rât đơn giản, bạn chỉ việc chọn hợp âm mong muốn sau đó thêm vào thư viện sử dụng riêng cho bài hát bằng cách nhấn nút Add.












Việc tổ chức thư viện các hợp âm riêng cho bản nhạc đang soạn sẽ giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thao tác. Thay vì phải nhập từng nốt cho các đoạn chơi hợp âm, bạn chỉ việc chọn tên hợp âm, nhấn Enter.
Guitar-Pro chia các hợp âm ra làm 3 bảng làm cho việc tìm, chọn hợp âm trở nên rất dễ dàng, nhanh chóng. 3 bảng đó là: Simple (đơn giản), Medium (Khó vừa) và all (cả 2 loại trên và khó).


-----InstyMeds - máy phát thuốc tự động đầu tiên trên thế giới---











Máy phát thuốc tự động đặt tại Bệnh viện Nhi đồng South Lake.

Được đặt tại phòng khám của các bác sĩ nhi khoa tại Inneapolis, bang Minnesota (Mỹ), những chiếc máy này trông giống như máy rút tiền khổng lồ. Tuy nhiên, thay vì tiền, chúng lại "nhả ra" các loại thuốc theo đơn đã kê. Tất cả những gì bạn phải làm là đút đơn thuốc và thẻ tín dụng vào máy, rồi đợi lấy thuốc bạn cần.


Đây là một cố gắng nhằm vi tính hóa việc kê đơn, giúp bệnh nhân khỏi phải xếp hàng cả giờ đồng hồ chờ nhận thuốc. Ngoài ra, nó cũng giúp loại bỏ những nhầm lẫn nguy hiểm từ phía người phát thuốc.


Ý tưởng tạo ra chiếc máy ép plastic này đến với ông Ken Rosenblum, nguyên bác sĩ phòng cấp cứu, trong một lần nửa đêm đi lùng mua kháng sinh cho cô con gái 5 tuổi bị viêm tai. Ông nói: "Tôi nghĩ điều này thật vô lý. Vì sao chúng ta lại phải nhận sự chăm sóc y tế tại 2 nơi? Nếu bạn đến nhà hàng, người hầu bàn đưa cho bạn thực đơn và bảo bạn tới một nơi cách đó 2 dặm, rồi chờ một giờ đồng hồ để có món bạn cần thì chắc bạn sẽ chả làm đâu".


Tại Mỹ, từ năm 1989, số lượng thuốc được kê tăng gấp đôi trong khi số lượng dược sĩ vẫn không đổi. Điều này đồng nghĩa với việc có ít cửa hàng thuốc mở cửa vào ban đêm, ngày lễ hay làm việc 24/24 giờ. Thậm chí ở một số phòng cấp cứu, các quầy bán thuốc ngoại trú còn đóng cửa. Tại các hiệu thuốc, người bệnh phải xếp hàng lâu hơn. Tệ hơn nữa, mỗi năm có tới 7.000 người chết vì bị phát nhầm thuốc. Nguyên nhân chủ yếu là do người bán thuốc không "luận" nổi đơn của bác sĩ, hoặc dược sĩ nhầm lẫn vì làm việc quá tải.


Để tránh những tai nạn này, hiện nay nhiều bệnh viện đã sử dụng hệ thống máy đọc mã vạch đối với thuốc dự trữ dành cho bệnh nhân nội trú. Khoảng 4% bác sĩ sử dụng việc kê đơn điện tử để tránh những sai lầm kể trên. InstyMeds là sự kết hợp của những hệ thống an toàn dựa vào máy vi tính này.


Rất được ưa chuộng


InstyMeds lần đầu tiên được đưa vào sử dụng ở Bệnh viện Nhi đồng South Lake, ngoại ô Minneapolis. Tại đây, bác sĩ Keenan Richardson và 5 đồng nghiệp đã áp dụng việc kê đơn điện tử. Họ cung cấp cho máy vi tính trọng lượng cơ thể trẻ và máy sẽ tự động tính liều thuốc. Cha mẹ bệnh nhi chỉ việc đưa đơn thuốc được in kèm mã số an toàn của trẻ vào máy InstyMedss. Sau khi kiểm tra các thông tin nói trên và thẻ tín dụng, máy sẽ nhặt một lọ thuốc với liều lượng và số lượng tương ứng, dán giấy hướng dẫn rồi đẩy ra ngoài. Trong vòng 12 tuần, máy này đã phát 1/2 đơn tại Bệnh viện South Lake. Bác sĩ Richardson cho biết, tất cả những người đã sử dụng máy một lần đều muốn dùng lại.


Tuy vẫn nằm trong khuôn khổ của một dự án thử nghiệm, Cơ quan quản lý dược phẩm của bang Minnesota đã cho phép đặt chiếc máy này ở tất cả mọi nơi. Công ty Mendota Healthcare Inc, tổ chức phát minh ra máy InstyMeds, hy vọng sẽ được phép đặt máy này tại phòng khám của các bác sĩ và các phòng cấp cứu trên toàn quốc.


Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là biện pháp tối ưu vì bệnh nhân nghèo và người phải đi cấp cứu có thể không có thẻ tín dụng. Ngoài ra, máy chỉ có khả năng lưu trữ 80 loại thuốc thông dụng và có nhiều thuốc bị thiếu. Và InstyMeds cũng không thể thay thế người dược sĩ trong việc giải thích cho bệnh nhân cách sử dụng thuốc an toàn.



( Theo www.vatgia.com)

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2008

Canon PowerShot SD1000 - "bao thuốc lá" biết chụp hình


Đầu thế kỉ 20, hầu hết các nhiếp ảnh gia vẫn chụp lại các hình ảnh với những chiếc camera lớn, kềnh càng khó di chuyển, chạy rất chậm với kính phẳng. Nhưng sự ra đời bất ngờ của những chiếc máy ảnh Kodak “Brownie” cuộn phim đã thay đổi tất cả.




Brownie sử dụng rất đơn giản, không phải giới hạn sử dụng với giá ba chân, và rất nhỏ gọn (so với những chiếc máy trước đó). Việc chụp ảnh khi ấy trở nên thật dễ dàng hơn bao giờ hết.

Chiến tranh thế giới thứ 2 đã sản sinh ra sự phát triển thực sự của các dòng máy ảnh siêu nhỏ như Riga Minox. Sau chiến tranh thế giới II, các nhiếp ảnh gia không chuyên, những người muốn những chiếc máy ảnh thu nhỏ có thể mua mẫu mã này- như là chiếc Mamiya 16 hay Stecky IIIB. Nhưng những chiếc máy ảnh giả điệp viên này rất đắt và rất phức tạp khi sử dụng, và lạ hơn những công cụ hình ảnh thật. Đến thập niên 60, những chiếc máy ảnh siêu nhỏ gọn thật sự như Rollei 35 đã xuất hiện, nhưng chúng cũng đắt và không có cái nào trong số là dễ dàng sử dụng. Những chiếc máy ảnh này ngày càng trở nên nhỏ hơn và nửa cuối của thế kỉ 20 đã chứng kiến sự ra đời của các máy ảnh phim 35mm siêu nhỏ, giàu tính năng, và dễ dàng sử dụng. Ví dụ như chiếc Minox 35GL và Contax T. Bước sang thế kỉ 21, những chiếc máy ảnh phim cuộn dần dần bị chiếm chỗ bởi các máy ảnh số - chuẩn mực vàng mới cho việc chụp ảnh.
Thập kỉ trước, những nhà phát triển sản xuất của Canon đã sáng tạo ra máy ảnh số siêu nhỏ trình diện cao giàu tính năng với các thước chụp nhanh. Dòng máy mới nhất của Canon Digital Elph, chiếc PowerShot SD1000, có thể là một chiếc máy ảnh hộp “Brownie” cho thế kỉ mới. Đây thực sự là một chiếc máy ảnh nhỏ hơn , nhanh hơn, nhiều khả năng hơn, mạnh hơn và dễ dàng hơn khi sử dụng.

LCD/Viewfinder

Tầm ngắm quang zoom đôi cho hình ảnh thật của Canon PowerShot SD100 thật sự nhỏ, và nó chỉ bao quát khoảng 80% của quang cảnh hình ảnh. Nó nhỏ đến nỗi nó trở nên vô dụng như một công cụ thêm vào, đặc biệt với phần thấu kính không sửa chữa độ điot.

Tôi thích sử dụng tầm nhìn quang trong cấu thành bởi tầm nhìn quang giúp mở rộng tầm nhìn của nhiếp ảnh gia qua việc lọc chọn những phần không nằm trong ống kính của máy ảnh và đó thực sự là một việc rất tốt. Để nói về độ sáng tạo thì kết cấu màn hình LCD “độ dài arms” khiến cho người chụp ảnh nhìn được những hình ảnh của họ theo kiểu “một hình giữa một hình”, nhìn được một phần nhỏ trong tổng thể hơn là một môi trường cá nhân hòan tòan nhỏ và nó là một khoảng cách quyết định .

Màn hình LCD góc nhìn rộng 2.5 inch (230000 pixel) của SD1000 chi phối phần sau của máy ảnh. Hình ảnh LCD sáng, sắc nét, độ chính xác cài và hiển thị hình ảnh tự động sáng trong các đìeu kiện ánh sáng mờ - người sử dụng cũng có thể nâng độ sáng màn hình LCD bằng tay. Màn hình LCD hiện 100% quang cảnh hình ảnh và thật hữu ích trong điều kiện ánh sáng ngòai trời . Hiển thị thông tin/ tình trạng LCD cung cấp mọi thông tin (định dạng chụp, cài đặt phần phụ phơi ảnh, cài đặt cân bằng trắng, cài đạt ISO, flash, lựa chọn đo độ sáng, dữ liệu độ phân giải) – những thông tin là mục tiêu mà các khách hàng của SD1000 hướng đến.

Hãng điện tử Nhật Bản NEC cho biết họ đang phát triển loại pin hữu cơ công suất lớn ORB, có khả năng bảo vệ các thiết bị công nghệ, máy tính để bàn... không bị mất dữ liệu khi có trục trặc điện.











Mẫu pin hữu cơ công suất lớn ORB của NEC.

ORB bao gồm hợp chất cao phân tử polymer hữu cơ, không chứa kim loại nặng độc hại như chì và catmi. Công nghệ này cũng được kiểm định và xác nhận là không gây cháy nổ. Pin có kích thước mỏng 55 x 43 x 4 mm, có thể sản sinh 35 watt, và không gây hại môi trường. Lắp 4 pin cùng loại sẽ mang lại khả năng vận hành một máy tính để bàn 140 watt.


80% dung tích ORB có thể được xạc chỉ trong vòng 1 phút, do đó rất phù hợp cho các ứng dụng không dây đòi hỏi quá trình nạp năng lượng nhanh chóng. Công suất ORB cao hơn pin lithium ion cùng kích cỡ nhưng thời gian hoạt động ngắn hơn. Sản phẩm cũng không thể duy trì sự vận hành của PC trong vòng một giờ như UPS (bộ lưu điện). Tuy nhiên, thể tích nhỏ và giá thấp là hai lợi thế quan trọng để ORB trở thành tính năng chuẩn tích hợp trong máy tính để bàn, loại bỏ hạn chế về sự cồng kềnh và đắt đỏ của UPS.


Pin hữu cơ là công nghệ mới sử dụng phản ứng điện hoá học của các chất hữu cơ được NEC giới thiệu từ năm 2001. Hãng điện tử này tin tưởng rằng sản phẩm sẽ rất hữu ích và đóng vai trò như là nguồn năng lượng thay thế quan trọng trong những tình trạng khẩn cấp, không chỉ cho máy tính doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ, mà còn trong thiết bị điện tử gia dụng.



Giải thích vì sao một mặt của tờ 50.000 đồng không gặp hiện tượng này, ông Toản cho biết, tờ 50.000 đồng chỉ một mặt sử dụng công nghệ in lõm. Mặt kia in offset, nên nhẵn phẳng, mực không bị mài khi bị ma sát.


Ngân hàng Nhà nước từng thông báo tiền polymer được phủ lớp véc-ni nên không thấm nước, hút ẩm hay giữ ẩm. Ông Toản phân tích, quá trình phủ không phải như máy ép plastic mà chỉ là lớp vec-ni mỏng có tác dụng tăng độ bền và bảo an của đồng tiền. Vì vậy nó không làm mất đi những nét nổi của đồng bạc.


Ông Toản lấy một số tờ tiền polymer của Australia, Singapore... bôi nước, gập lại xoa, thấm vào tờ giấy trắng, kết quả cũng tương tự như tiền polymer của Việt Nam.


Cục phó cho biết, sau 2 năm phát hành, Ngân hàng Nhà nước chưa phát hiện trường hợp nào tiền polymer bị hỏng do lưu thông. Trong khi đó, tuổi thọ của tiền cotton ở Việt Nam là 3 năm.


"Hiện Ngân hàng Nhà nước chỉ ghi nhận một số trường hợp tiền polymer bị hỏng là do quá trình bảo quản không đúng cách, hay gặp hóa chất", ông Toản khẳng định. Cơ quan chức năng khuyến cáo người dân không nên để đồng bạc gần lửa hoặc nguồn nhiệt cao, không nên vò nhàu, vuốt, xiết mạnh theo nếp gấp. Tuy nhiên, đặc điểm mòn mực khi tiền polymer chịu sự ma sát cao không được Ngân hàng Nhà nước khuyến cáo khi công bố.


---Trong 10 năm qua, Việt Nam đã triển khai thành công hoạt động mã số mã vạch (MSMV) với việc tham gia vào tổ chức MSMV quốc tế. Tuy vậy, các doanh nghiệp, tổ chức mới tập trung khai thác chủ yếu các loại máy đọc mã vạch một chiều truyền thống.












Soạn: AM 599538 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Hội nghị Chất lượng Việt Nam lần thứ 6


Nhận xét trên do Bộ Khoa học-Công nghệ (KH&CN) đưa ra tại Hội nghị Chất lượng Việt Nam lần thứ VI. Hội nghị do Bộ KH&CN tổ chức, khai mạc sáng 27/10 với chủ đề ''Năng suất Chất lượng - Chìa khoá Phát triển và Hội nhập'' và sẽ kéo dài tới hết ngày 28/10.


Được biết, trong Thập niên Chất lượng 1996-2005, hàng vạn mặt hàng mang MSMV của Việt Nam với ba số đầu 893 đang được lưu thông trên thị trường trong và ngoài nước.


Áp dụng MSMV giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất, chất lượng và giảm các chi phí không cần thiết nhờ hệ thống đánh số đơn nhất, chính xác và quét tự động mã vạch. Không chỉ bó hẹp ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hoạt động MSMV cũng được mở rộng cho một số lĩnh vực khác như thẻ nhân sự, quản lý hành lý, khách hàng ở sân bay...


----"Rất khó phân loại, định hình các dịch vụ CNTT!"----


Trao đổi với VietNamNet về cơ chế, chính sách của Bộ Thông tin và Truyền thông trong lĩnh vực dịch vụ CNTT, ông Nguyễn Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp CNTT đã nhấn mạnh: Để phân loại, định hình rõ ràng các dịch vụ này, đây là công việc khó khăn và nặng nề!













Ông Nguyễn Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Công nghiệp CNTT - Bộ Thông tin - Truyền thông.



- Để hỗ trợ, định hướng phát triển các dịch vụ CNTT, Bộ Thông tin - Truyền thông đang xây dựng cơ chế áp dụng trong lĩnh vực này?

- Ông Nguyễn Anh Tuấn: Thực ra các DN của VN đã có các dịch vụ CNTT từ lâu, nhưng rất khó để phân định đâu là DN chuyên sản xuất, hay làm thương mại, vì loại hình này có đặc thù riêng. Các DN thường không có ranh giới rõ ràng, DN vừa làm về thương mại, vừa làm về dịch vụ, bởi vì có dịch vụ phát triển thì mới hỗ trợ thương mại.


Ngay cả những DN chuyên về sản xuất như CMC với nhà máy máy tính CMS hay là FPT Elead chuyên về sản xuất thì vẫn phải có dịch vụ hỗ trợ là dịch vụ bảo hành, bảo trì...


Vì vậy, khái niệm dịch vụ CNTT rất rộng. Nếu nói dịch vụ trên nền CNTT thì còn rộng hơn, ví dụ như các dịch vụ của chính phủ điện tử, hay là tài chính, ngân hàng ứng dụng CNTT...


Đầu tiên là phải thống nhất được những khái niệm, phải chỉ được ra nhận dạng được nó thì mới có chính sách phát triển nó được. Hiện tại, thay vì có chương trình hỗ trợ trọn gói cho dịch vụ CNTT thì điều đầu tiên là phải định hình, xây dựng danh mục về các dịch vụ CNTT và dịch vụ liên quan.


- Thưa ông, vậy từ trước đến nay, VN đã áp dụng theo chuẩn nào đề phân loại dịch vụ CNTT?


- Theo danh mục do Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đưa ra, nhưng danh mục này từ năm 1991, nên đã bị lỗi thời, vì các dịch vụ này lại liên tục phát triển, có nhiều hoạt động mới được xếp vào dịch vụ CNTT.


Danh mục này không còn phù hợp với tình hình hiện nay nhưng qua bảng danh mục của WTO, ta có thể học tập được là họ đã chuẩn hóa theo mã quốc tế, mã này thuận lợi cho việc làm chính sách cũng như nhận dạng nó. Vì vậy, chủ trương chính hiện nay là xây dựng danh mục về dịch vụ CNTT, đến mức ta có thể xây dựng bộ mã chuẩn. Lúc bấy giờ, kể cả các cơ quan hải quan, cơ quan thuế... sẽ vận dụng chính xác theo chuẩn này.













Đó là việc trước tiên sẽ làm trong thời gian tới. Ngoài ra, các chính sách CN phần mềm và nội dung số cũng nằm trong bộ chính sách hỗ trợ cho các dịch vụ CNTT. Thời gian tới, Bộ sẽ xây dựng nghị định hướng dẫn triển khai những chính sách liên quan đến dịch vụ CNTT.

Bởi vì, trong cấu trúc của luật CNTT mới được phê duyệt gồm có các phần: Phần ứng dụng CNTT, phần CN CNTT, và phần thanh kiểm tra. Chúng ta đã có những nghị định liên quan đã được ban hành, và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. nhưng phần dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực CNTT thì chưa có nghị định nên trong thời gian tới, sẽ được bổ sung.


- Nghĩa là hiện tại, nhiều dịch vụ CNTT vẫn chưa được phân loại và gọi tên?


- Rất nhiều dịch vụ CNTT ở VN đã xuất hiện nhưng chưa có trong bảng phân loại cũ. Ví dụ, hiện nay, trên thế giới, các hãng điện thoại di động đều cần có dịch vụ sửa chữa, bảo hành thiết bị di động trên toàn thế giới.


Nhưng thực ra, tất cả các hãng đa quốc gia đều ký kết với một tập đoàn sửa chữa toàn cầu. DN này có mạng lưới trên toàn thế giới, chuyên bảo hành, sửa chữa cho các công ty lớn, thậm chí sửa chữa thiết bị cho Nokia còn tốt hơn Nokia sửa cho Nokia... Khi một trong những trung tâm, hoặc công ty sửa chữa, bảo hành thiết bị toàn cầu "vào" VN và đăng ký kinh doanh thì bị "vướng" đầu tiên, là không có hạng mục này trong danh mục dịch vụ CNTT.


Để sửa chữa kinh doanh, công ty này phải nhận các thiết bị hỏng ở khắp nơi trên thế giới và VN để sửa chữa, bằng cách nhập khẩu. Khi đó, công ty này bị cấm nhập các thiết bị cũ đã qua sử dụng, nên không thể nhập vào được, dẫn tới không hoạt động được.


Vì vậy, làm sao chúng ta phải tách bạch ra được là DN này nhập các thiết bị cũ về để sửa chữa. Nếu loại hình dịch vụ này chưa có trong danh mục thì không thể vận dụng vào nội dung nào được!


Hình thức thứ hai minh họa cho một dịch vụ chưa được định nghĩa, là trường hợp của công ty TMA chuyên về outsourcing nổi tiếng. Dịch vụ gia công của công ty này lại outsourcing ở mức độ cao, gia công các hoạt động R&D - nghiên cứu và phát triển.


Tức là một hãng phần mềm có hệ thống thiết bị lớn, cần phát triển một thiết bị ngoại vi phục vụ cho thiết bị này. Hãng này bắt buộc outsourcing việc kiểm thử ở VN (mặc dù đã thiết kế, sản xuất thiết bị này ở nước họ).


Nhưng DN khi kiểm thử lô lớn trong một thời gian rất dài thì cần phải có thiết bị cũ để kiểm thử quan hệ kết nối. Khi phát triển một thiết bị mới, thì thiết bị mới phải làm việc được với các thiết bị cũ đã nằm trong mạng lưới. Muốn kiểm thử, vì vậy, DN cần nhập thiết bị cũ để kiểm thử quan hệ tương tác giữa hai thiết bị với nhau.


DN bắt buộc phải nhập thiết bị cũ đã qua sử dụng vì phần lớn thiết bị cũ đã nằm trong mạng lưới rồi. Để tối ưu, DN không thể nhập thiết bị mới tinh mà để kiểm tra, chỉ có cách nhập thiết bị cũ đã qua sử dụng, thì cũng lại bị "vướng."


Vì vậy, loại hình này cần được gọi tên trong danh mục. Và các loại dịch vụ chưa được gọi tên đó thì vô cùng biến hóa, và chưa được gọi tên. Nhiệm vụ của chúng tôi là xây dựng một Nghị định hướng dẫn, giải thích cho luật CNTT về phần dịch vụ. Và giúp cho DN định hình và triển khai được các loại hình dịch vụ liên quan, chưa nói đến các dịch vụ trên nền CNTT...





( Theo www.vatgia.com)